MTVN 0 – Quá trình hình thành dân tộc Việt Nam

Việc tìm hiểu quá trình hình thành đất nước việt nam với 54 dân tộc thật sự không đơn giản, do bởi hình hài đất nước thay đổi theo từng thời kỳ và con người sống trên đó cũng vậy.

Hãy thử hướng ánh mắt về quá khứ từ thưở bình minh, bạn sẽ thấy những cuộc thiên di khổng lồ của những chủng tộc người nguyên thuỷ, những cuộc xâm chiếm không ngừng của những thế lực ngoại bang và các triều đại nối tiếp nhau luân phiên gìn giữ bờ cõi đất nước.

Chúng ta hãy tìm về cội nguồn dân tộc qua lăng kính mỹ thuật trên những hiện vật khai quật được trên mỗi di chỉ khảo cổ nỗi tiếng việt nam.

Nguồn gốc tổ tiên người Việt Nam và quá trình hình thành 54 dân tộc

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phân bố các chủng người trên Trái Đất cho thấy Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á là một trong những chiếc nôi hình thành loài người, đâỵ chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng phương Nam (Ja. V. Chesnov, 1976).

Chthsáng to mthut Vit Nam

Các nhà khoa học Việt Nam và thế giới đưa ra các giả thuyết khác nhau về nguồn gốc dân tộc Việt Nam:

  • Dân tộc Việt Nam gắn bó, liên quan với cư dân quần đảo Thái Bình Dương (Codes, Finot).
  • Dân tộc Việt Nam có nguồn gốc bản địa (Maspero, Lê Văn Siêu).
  • Dân tộc Việt Nam từ Hoa Nam xuống (Đào Duy Anh, Cổ sử Trung Hoa).
  • Dân tộc Việt Nam vốn là người Indonesien (còn gọi là cổ Mã Lai) từ vùng Tây Tạng xuống

Theo PGS Trần Lâm Biền trích dẫn nghiên cứu của GS Từ Chi thì gốc gác bản địa nhất của người Việt

  • là thuộc hệ tộc Môn-Khơ me. Tộc người này sống tràn lan khắp vùng bán đảo và một phần ờ bên kia biên giới Việt-Trung.
  • Hệ thứ hai đáng quan tâm, mang tính bản địa và bán bản địa, đó là hệ Tạng-Miến được coi như di chuyển theo triền sông Hồng xuống, rồi hội tụ với người Môn – Khơ me ở Tây Bắc và cả ở Việt Bắc.
  • Vào khoảng xấp xỉ 3000 năm về trước, người Hán ờ phương Bắc Trung Hoa lục địa do “bùng nổ” về dân số (?) họ tràn xuống phía Nam và nhất là vùng ven biển, đã ép nhiều tộc Việt phải thiên di, trong đó có hệ Tày-Thái, đó là hệ thứ ba tràn vào đất Việt Nam hiện nay, hệ này có mặt cả ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Lào. Thái Lan và một số nơi khác.
  • Hệ thứ tư, trọng tâm là người Đản, giáp biển, mở cuộc thiên di ra ngoài khơi để chuyển hóa thành hệ Nam Đảo hay Mã Lai đa đảo, họ thâm nhập vào đất Việt qua những triền sông, đi ngược lên, hội tụ với các hệ tộc đã có ở nơi đây và một bộ phân lớn khác đổ bộ vào miền Trung để tạo nên vương quốc Chăm và các tộc người Ê Đê, Gia Rai….Cũng có thể nghĩ họ là cư dân chính của quốc gia hải đảo Indonexia và Malaixia.

Cũng theo cố GS Từ Chi, bốn hệ cơ bản này cùng một số tộc thiểu số khác có thể đã hội nhập với nhau chung sống, hòa trộn làm nảy sinh ra hệ Việt -Mường. Các cách giải thích này không mâu thuẫn nhau mà lại bổ sung cho nhau.

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phân bố các chủng người trên trái đất cho thấy Việt nam trong bối cảnh Đông Nam Á là một trong những chiếc nôi hình thành loài người, đâỵ chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng phương nam (Ja. V. Chesnov, 1976)

Khoảng 40-50 vạn năm trước khí hậu Việt Nam mang nặng tính chất nhiệt đới, nóng ẩm, thích hợp cho sự sinh sống. Với những vết tích còn lại như răng người vượn hóa thạch phát hiện tại hang Thẩm Khuyên (Bình Gia- Lạng Sơn ), tại Núi Đọ (Thanh Hóa), Dầu Giây (Đồng Nai) tìm thấy những công cụ đá thô sơ (mảnh tước, rìu tay ) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ cách nay 30 vạn năm… Chứng tỏ người vượn (Homo Erectus) đã có mặt ở nhiều vùng từ Bắc tới Nam. Lúc này loài người còn sống thành bầy đàn chưa phân chia chủng tộc.

Đến 2 vạn năm cách ngày nay loài người mới hình thành 3 chủng tộc chính:

  • Chủng Mongoloid (da vàng) sống ở châu Á,
  • Chủng Australoid (da đen) sống ở châu Úc, châu Phi
  • Chủng Europoid (da trắng) sống ở châu Âu.

Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể được hình dung theo 3 giai đoạn

Nhóm người Ấn Độ thuộc đại chủng Australoid
  1. Vào cuối thời kỳ đồ đá cũ có một dòng người thuộc chủng Mongoloid từ phía dãy Himalaya thiên di về Đông Nam tới vùng Đông Nam Á cổ đại đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Melannesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid) dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã-lai) với nước da ngăm đen, tóc quăn gợn sóng, tầm vóc thấp, hốc mũi hơi rộng, môi dày, mí mắt có nếp rõ. Từ đây lan tỏa ra và cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại: phía bắc tới sông Dương Tử, phía tây tới bang Assam của Ấn – Độ, phía đông tới vùng quần đảo Philippin và nam tới các quần đảo Indonesia.
  2. Từ thời kỳ đồ đá mới đến đầu đồ đồng quá trình hỗn chủng vẫn tiếp tục diễn ra giữa chủng lndonesien và chủng Mongoloid nên đã hình thành chủng Nam Á (Austroasiatique) với các nét đặc trưng Mongoloid càng ngày càng nổi trội.
  3. Từ đầu thiên niên kỷ II TCN đến đầu công ngụyên (sử cũ là 2.789 TCN) chủng Nam Á phân hóa thành nhiều tộc người mà cổ thư của Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt như Điền Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt….sinh sống khắp khu vực phía nam sông Dương Tử cho tới Bắc Trung Bộ ngày nay. Ban đầu mỗi khối cư dân này có một tiếng nói riêng như Môn- Khơ mer, Việt- Mường, Tày- Thái, Mèo- Dao. Quá trình chia tách này tiếp tuc diễn tiến dẫn đến sự hình thành các dân tộc cụ thể (cùng với sự chia tách ngôn ngữ).
Địa bàn cư trú của các tổ tiên các Dân tộc Việt Nam

Việc xác định về mặt địa lý có thể hình dung như sau:

  • Tam giác màu đỏ: Địa bàn cư trú của người Bách Việt là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là Bắc Trung Bộ Việt Nam.
  • Tam giác màu vàng: Địa bàn cư trú của người Bách Việt và Nam Đảo là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là đồng bằng sông Mê kông Việt Nam.
  • Địa bàn cư trú của hậu duệ người Cổ Mã Lai, mà ngày nay là phần lớn các cư dân Đông Nam Á là một vùng rất rộng kéo dài từ Ấn Độ đến Philippines theo chiều Tây Đông, và từ sông Dương Tử xuống đến Indonesia theo chiều Bắc Nam.

Trong khi đó, ở phía Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú của người Indonesien. Cuộc sống biệt lập khiến cho khối người này vẫn còn lưu giữ được nhiều đặc điểm truyền thống văn hóa cổ truyền Australoid. Đó là tổ tiên của người Chàm, Raglai, Ê đê, Chu ru, Stiêng…. Nói chung dân tộc Việt Nam ngày nay có 54 tộc người trong đó tộc người Việt (Kinh) thuộc nhóm Nam Á chiếm đa số.

54 tộc người được chia làm 8 nhóm, trong đó nhóm Việt – Mường chiếm đa số

  1. Nhóm Việt – Mường: Kinh, Chứt, Mường, Thổ
  2. Nhóm Tày – Thái: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
  3. Nhóm Kadai: Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo
  4. Nhóm Môn – Khmer: Ba Na, Brâu, Bru – Vân, Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khơ Me, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, X’Tiêng
  5. Nhóm H’Mông – Dao: Dao, H’Mông, Pà Thẻn
  6. Nhóm Nam đảo: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai
  7. Nhóm Hán: Hoa, Ngái, Sán Dìu
  8. Nhóm Tạng-Miến: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La

Người Việt đã tách ra từ khối Việt – Mường vào khoảng thế kỷ VII. Một bộ phận lớn người Việt đã sinh sống ở kinh thành dưới thời Bắc thuộc nên được gọi là người Kinh. Như vậy nếu nói người Việt là người Việt Nam là không đúng, mà người Việt chỉ là 1 dân tộc trong 54 dân tộc anh em mà thôi. Điều này hay bị nhầm lẫn trong các phương tiện truyền thông, bài viết, quảng cáo.

Nói tóm lại, nguồn gốc người Việt thuộc chủng Indoneslen cùng với các chủng Đông Nam Á tiền sử. Cho nên văn hóa Việt Nam nằm trong quỹ đạo văn hóa Đông Nam Á. Trong quá trình phân hóa, các dân tộc Việt hình thành nền văn hóa đặc thù, có một nguyên bản riêng, có tính thống nhất trong đa dạng.

CẬP NHẬT QUAN TRỌNG: Công trình nghiên cứu đề tài nghiên cứu về hệ gen người Việt Nam, đã công bố trên tạp chí Human Mutation tháng 5-2019, là bộ gen ít bị pha trộn, có nhiều điểm tương đồng với bộ gen của người Thái Lan nhưng khác xa với gen người Hán, Trung Quốc. (Ông Nguyễn Thanh Liêm, viện trưởng Viện Nghiên cứu tế bào gốc – công nghệ gen Vinmec, làm chủ nhiệm đề tài)

Theo PGS Lê Sỹ Vinh – chuyên gia phân tích hệ gen, kết quả nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tổ tiên người Việt nằm trong nhóm người (hiện đại) đã di cư từ châu Phi từ 200.000 năm trước, khoảng 40.000 – 60.000 năm trước đã đến cư trú tại Đông Nam Á, trong đó có VN, sau đó mới tiếp tục di cư lên các nước Đông Á.

PGS Vinh cho rằng trước đây một số học giả cho rằng nguồn gốc người Việt là người Hán ở phía Bắc Trung Quốc, nhưng giả thuyết mới là tổ tiên chúng ta di cư từ phía biển vào, đến Đông Nam Á rồi sau đó mới đến Trung Quốc.

 (Link báo tuổi trẻ)

5 chặng đường Lsmt Việt Nam

Mỹ thuật thời kỳ hình thành cơ tầng văn hóa nghệ thuật bản địa (thời nguyên thủy)

Mỹ thuật thời kỳ xác lập bản sắc văn hóa Việt (Đông Sơn – Sa Huỳnh – Đông Nam Bộ)

Thời kỳ giao lưu văn hoá hình thành văn hoá truyền thống Việt Nam

  • Mỹ thuật thời Bắc thuộc
  • Từ Sa Huỳnh đến Mỹ thuật Chăm Pa
  • Mỹ thuật văn hoá Óc Eo (Phù nam)
  • Mỹ thuật Thánh địa Cát Tiên

Mỹ thuật thời kỳ văn hoá Đại Việt (938 – cuốiTK XIX)

  • Mỹ thuật các đời phong kiến Ngô, Đinh, Tiền Lê (938 -1009)
  • Mỹ thuật thời Lý
  • Mỹ thuật thời Trần (1226 -1400), thời Hồ (1400-1407)
  • Mỹ thuật thời Lê sơ (1427-1525)
  • Mỹ thuật thời Mạc (thế kỷ XVI)
  • Mỹ thuật thế kỷ XVII-XVIII (thời vua Lê chúa Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh và Tây Sơn)
  • Mỹ thuật thời Nguyễn

Mỹ thuật Việt Nam hiện đại

  • Sự hình thành và phát triển mỹ thuật Việt Nam hiện đại
  • Mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ 1925 – 1945
  • Mỹ thuật Việt Nam hiện đại 1945-1975
  • Mỹ thuật giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945 -1954
  • Mỹ thuật giai đoạn 1954-1975
  • Mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ năm 1975 đến nay
    • Mỹ thuật Việt Nam hiện đại giai đoạn 1975-1985
    • Mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay


Tham khảo từ: http://www.wikiwand.com/vi/Nguồn_gốc_các_dân_tộc_Việt_Nam

Leave a Reply